TỰ LẬP – TÌNH YÊU – CẢM THỨC CỘNG ĐỒNG – CÂU NGHỊ LUẬN XÃ HỘI ĐỀ THI CHỌN HSGQG 2025 – 2026
TỰ LẬP – TÌNH YÊU – CẢM THỨC CỘNG ĐỒNG – CÂU NGHỊ LUẬN XÃ HỘI ĐỀ THI CHỌN HSGQG 2025 – 2026
Câu 1: Nghị luận xã hội
Đọc ngữ liệu sau:
“Triết gia: Tự lập nghĩa là “thoát khỏi bản tính ích kỷ”.
Chàng thanh niên: …!!
Triết gia: Chính vì thế Adler gọi cảm thức cộng đồng […] là sự quan tâm tới xã hội, quan tâm tới người khác. Chúng ta cần thoát khỏi bản tính ích kỷ cố hữu, từ bỏ việc mình là “trung tâm thế giới”. Cần phải thoát khỏi “tôi”. Cần phải thoát khỏi lối sống thời còn là một đứa trẻ được chiều chuộng.
Chàng thanh niên: Thầy nói rằng, khi thoát khỏi bản tính ích kỷ, chúng ta mới có thể tự lập…?
Triết gia: Đúng vậy. Con người có thể thay đổi. Và có thể thay đổi lối sống, thế giới quan và nhân sinh quan đó. Tình yêu đã biến chủ ngữ của cuộc đời vốn là “tôi” thành “chúng ta”. Nhờ tình yêu, chúng ta được giải thoát khỏi “tôi”, trở nên tự lập và đón nhận thế giới với ý nghĩa thực sự của nó.
Chàng thanh niên: Đón nhận thế giới?!
Triết gia: Vâng. Với việc biết đến tình yêu, chủ ngữ của cuộc đời đổi thành “chúng ta”. Đây là xuất phát điểm mới của cuộc đời. “Chúng ta” bắt đầu chỉ bằng hai người sẽ dần dần mở rộng phạm vi ra thành cả cộng đồng và cả nhân loại.
Chàng thanh niên: Đó là…
Triết gia: Là cảm thức cộng đồng.”
(Kishimi Ichiro và Koga Fumitake, Dám hạnh phúc, Nguyễn Thanh Vân dịch, NXB Dân trí, Hà Nội, 2024, tr.259-260)
Từ đoạn đối thoại trên, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận bàn về vấn đề: mối quan hệ giữa tự lập, tình yêu và cảm thức cộng đồng.
Bài viết tham khảo:
Tự lập = Thoát khỏi “tôi” (ích kỷ) + Tình yêu (chuyển chủ ngữ thành “chúng ta”) + Cảm thức cộng đồng.
Cuộc đối thoại giữa triết gia và chàng thanh niên đã phác thảo một công thức cho sự trưởng thành tinh thần. Theo đó, tự lập đích thực chỉ thành hình khi con người vượt thoát khỏi cái tôi ích kỷ, nhờ tình yêu để chuyển hóa chủ thể và nuôi dưỡng cảm thức cộng đồng. Tuy nhiên, đời sống nội tâm hiếm khi là một đường thẳng. Hành trình từ “tôi” đến “chúng ta” vốn không phải là một bước nhảy vọt đơn thuần, mà giống như một đường gấp khúc với nhiều chặng quanh co, đòi hỏi sự tỉnh táo để nhận diện và, tôi cũng nghĩ, là sự can đảm để đối diện với nhiều vấn đề ở từng “đơn vị” làm nên phép toán ấy.
Trước hết, ta cần hiểu triết gia định nghĩa khái niệm “tự lập” theo cách nào. Với ông, đó không hẳn là khả năng lo liệu sinh kế, mà là sự trưởng thành tâm lý, khi con người ý thức rằng mình không phải là trung tâm của vũ trụ. Cái “tôi” cần thoát khỏi là tâm thế ích kỷ của một đứa trẻ được nuông chiều, luôn đòi hỏi thế giới phải xoay quanh mình. Đứa trẻ ấy, thực chất, lệ thuộc sâu sắc vào ánh nhìn và sự công nhận từ người khác. Và khi càng đòi hỏi được vỗ về, con người càng khó có được tự lập. Vì vậy, thoát khỏi tính ích kỷ chính là từ bỏ sự lệ thuộc cảm tính để tự đứng vững bằng nội lực. Và con đường để đạt tới sự tự lập ấy, theo triết gia, chính là tình yêu – tình yêu cuộc sống xung quanh, tình yêu những gì ngay gần. Tình yêu ở đây là một thái độ sống: học cách quan tâm, gắn bó và lắng nghe một người khác, một người có thể rất gần mình, nhưng chắc chắn là khác với bản thân mình. Khi lắng nghe, con người học cách nhìn đời từ nhiều vị trí. Chủ ngữ của đời sống âm thầm thay đổi: ta không chỉ quan tâm xem “tôi được gì” mà bắt đầu nghĩ “chúng ta sẽ ra sao”. Sự dịch chuyển ấy giúp con người bước ra khỏi vòng lặp chật hẹp của bản thân để “đón nhận thế giới với ý nghĩa thực sự của nó”. Tình yêu, theo nghĩa đó, đã biến chủ ngữ của cuộc đời vốn là “tôi” thành “chúng ta”. Và từ “chúng ta” của hai người, phạm vi quan tâm mở rộng dần thành cảm thức cộng đồng, khi con người ý thức rằng mình tồn tại trong một mạng lưới các mối quan hệ: từ gần đến xa, từ trực tiếp đến gián tiếp, và từ hữu hình đến vô hình. Điều này nhắc nhở rằng con người không bao giờ tồn tại đơn độc; rằng hạnh phúc và sự trưởng thành của mỗi cá nhân được nuôi dưỡng từ những kết nối với người khác. Cảm thức cộng đồng, theo nghĩa này, có lẽ hàm chứa ý niệm về sự biết ơn: biết ơn vì mình được là học trò của ai đó, là bằng hữu của ai đó, là gia đình với ai đó, và đôi khi, là đứa con của một dân tộc nào đó. Đó là sự tổng hòa của những gắn bó cụ thể, lặng lẽ nhưng bền bỉ trong dòng chảy đời sống thường ngày.
Đồng thời, “cảm thức cộng đồng” cũng là một điểm tựa vô hình để con người nương cậy trong tâm tưởng. Xét cho cùng, không cá nhân nào có thể vĩnh viễn tồn tại bên cạnh người khác; ai rồi cũng phải đối diện với đơn độc. Chính trong khoảnh khắc ấy, cảm thức cộng đồng hiển lộ ý nghĩa sâu sắc của nó: không phải ở những kết nối mắt thấy tai nghe, mà ở sự hiện diện của những người yêu thương trong trái tim mình. Nó tồn tại dưới hình dạng của ký ức, của kỷ niệm, của những gắn bó đủ mạnh mẽ để ta tin vào phép màu. Những gắn bó ấy giúp con người tự kiến tạo một “cộng đồng” ngay trong tâm tưởng. Để rồi, ngay cả khi cộng đồng không còn hiện diện trực tiếp, ta vẫn không quên họ, và quan trọng hơn, không quên chính mình (không quên mình đã lớn lên và gắn bó như thế nào trong vùng ký ức ấy). Và đương nhiên, cảm thức cộng đồng còn giúp con người đủ khiêm tốn để nhận ra rằng mình không là tất cả. Nó cho ta một trọng tâm để không lạc lối trong cô đơn, và một viễn cảnh để không chìm đắm trong kiêu ngạo. Cộng đồng trong cảm thức nhắc nhở ta về những giá trị từng được chia sẻ, về những trách nhiệm thầm lặng ta vẫn còn mang theo, về một cộng đồng rộng lớn hơn mà ta vẫn thuộc về, và phải cố gắng để lắng nghe, dù bằng cách này hay cách khác.
Tuy nhiên, chính khi lộ trình này trở nên thuyết phục, “cảm thức cộng đồng” dường như là một cái kết mĩ mãn, nó cũng đồng thời đặt ra những câu hỏi cần được suy xét cẩn trọng.
Câu hỏi thứ nhất là liệu đạt tới “cảm thức cộng đồng” bằng cách “thoát khỏi bản tính ích kỷ” có chồng chéo với từ bỏ ý thức cá nhân hay không? Cái “tôi” là một cấu trúc phức tạp: nó không chỉ chứa đựng sự ích kỷ non nớt, mà còn hàm chứa lương tri, khát vọng, năng lực và quyền được tồn tại như một cá thể độc lập. Liệu có thể tách biệt và triệt tiêu bản năng ích kỷ mà không gây liên lụy đến những thành tố tinh thần khác hay không? Điều này, hiển nhiên, là rất khó. Quan trọng hơn, nếu cái “tôi” biến thành “chúng ta”, thì cái tôi ấy sẽ đi đâu? Nếu nó bị hợp nhất, nghĩa là nó đã biến mất. Và khi đó, “chúng ta” có nguy cơ trở thành một khối vô diện, trừu tượng (là rất nhiều người nhưng không là ai cả). Do vậy, cần nhận định rằng cảm thức cộng đồng phải được tạo nên từ những cá nhân khác biệt, những người không bao giờ hiểu hết về nhau, nhưng đang cố gắng lắng nghe và kết nối.
Như vậy, điều đáng lo ngại không nằm ở chính ý niệm “cảm thức cộng đồng”, mà ở sức cám dỗ của tư duy hợp nhất. Khi hợp nhất, con người dễ bao quát, dễ đánh giá, dễ thỏa mãn sự lười biếng tư duy, nhưng cũng dễ quên rằng “chúng ta” được cấu thành từ rất nhiều cái “tôi” khác biệt. Nhu cầu hợp nhất tuyệt đối trong vài trường hợp, chỉ là một cách né tránh việc phải đối diện với sự phức tạp của thế giới. Ta chọn con đường đơn giản: dùng số đông để loại trừ sự tồn tại của những quan điểm khác. Ranh giới giữa hình mẫu và áp đặt, giữa đề xuất và định kiến, đôi khi mong manh như một sợi tóc. Và đôi khi, “chúng ta” không còn là sự kết nối, mà trở thành mồi lửa thiêu rụi mọi khác biệt. Những định kiến về giới, chủng tộc hay trí tuệ cũng phần nào được duy trì dưới cái cớ “ai cũng nghĩ vậy”. Chúng đánh đồng mọi khác biệt là không hòa đồng. Vì thế, có lẽ cần thận trọng khi đánh giá một ai đó là “ích kỷ” chỉ vì họ không vừa vặn với quan điểm cộng đồng. Bên cạnh đó, ranh giới giữa lựa chọn tự giác và sự ép buộc hy sinh trong đời sống cũng rất lớn. Nhiều bi kịch không bắt nguồn từ ích kỷ, mà từ việc con người bị ép phải “vị tha”. Trong những môi trường khắc nghiệt, lời kêu gọi “sống vì đám đông” đôi khi trở thành công cụ thiêng liêng hóa sự áp đặt, khiến mỗi cá nhân tự giác triệt tiêu chính mình. Có lẽ vì thế, dù phức tạp, quyền tự quyết và mức độ thoát khỏi bản năng ích kỷ của mỗi người vẫn là điều cần được băn khoăn.
Bởi lẽ, một cảm thức cộng đồng đích thực chỉ có thể nảy nở trên nền tảng của sự tích hợp, chứ không phải hợp nhất. Để phân biệt hai khái niệm này, có thể hình dung qua phép ẩn dụ quen thuộc: nồi súp hầm và tô salad. Nồi súp tượng trưng cho sự hợp nhất – mọi nguyên liệu bị hòa tan; ngược lại, tô salad tượng trưng cho sự tích hợp – các thành phần giữ nguyên hương vị và hình dáng, cùng góp mặt để tạo nên một tổng thể. Một cộng đồng lành mạnh, vì vậy, phải là một tô salad: một không gian chung cho phép cái riêng hiện diện, đối thoại và được tôn trọng, dù điều đó chắc chắn sẽ phức tạp và lộn xộn. Nhưng thực ra, tiến bộ của nhân loại lại cần một vài con người như thế, những người dám “lộn xộn” như thế. Họ sẽ là những người dám tuyên bố rằng: “Con người có thể bay”, “có thể lặn”, “có thể hít thở ngoài không gian”, và thậm chí, là “có thể chiến thắng cái chết”,v.v.. Sự dị biệt này đương nhiên khiến hình dung về nhân loại kém yên ổn hơn, bớt “bình thường” hơn, nhưng đồng thời cũng làm cho tâm hồn nhân loại sống động hơn, và nó khiến chúng ta phải nghĩ, không thể ngừng nghĩ.
Câu hỏi thứ hai, là về vị trí của “tình yêu” cho chính mình trong hành trình này (tình yêu cho “cái tôi”)? Từ “tôi” đến “chúng ta” là một hành trình vất vả, và con người không thể yêu người khác một cách trọn vẹn nếu không biết trân trọng bản thân. Tình yêu bản thân không đồng nghĩa với sự chiều chuộng ích kỷ, mà là sự chăm sóc, thấu hiểu và phát triển cái tôi để có thể tham gia vào “chúng ta” một cách bình đẳng. Tuy nhiên, khi nhận định điều này, cũng cần thừa nhận một thực tế: không phải cái tôi nào sinh ra cũng đã vẹn tròn để có thể hiện diện cùng những cái tôi khác. Có những tổn thương sâu sắc khiến một vài cái tôi vĩnh viễn mang theo những vết rạn không thể chữa lành. Nếu chỉ những cái tôi “hoàn thiện” (những ai không còn ích kỉ, và không được tiêu cực) mới đủ điều kiện trở thành “chúng ta”, thì một cộng đồng ưu sinh sẽ ra đời, hoàn hảo đến vô lí. Do đó, cảm thức cộng đồng phải là một khái niệm mang tính cá nhân. Ai cũng có khả năng chạm tới cảm thức cộng đồng, nhưng hình thái của cảm thức ấy ở mỗi người là không giống nhau. Với người này, “chúng ta” là những gì lấp lánh; nhưng với người kia, “chúng ta” đôi khi chỉ là sự hiện diện lặng lẽ, thân thuộc xung quanh, là lòng tin, dẫu mong manh, rằng họ vẫn được phép thuộc về một nơi nào đó, và có một nơi nào đó để thuộc về.
Vì thế, hơn hết, tôi cho rằng ta cần một sự nhìn nhận bao dung đối với những cái tôi chưa vẹn tròn. Để một cá nhân thay đổi lối sống và nhân sinh quan theo cách triết gia đề xuất, đó là một quá trình tự thân đầy nhẫn nại. Và với những cái tôi đang mang theo thương tổn, việc mong chờ họ lập tức thoát khỏi bản năng ích kỷ để hướng về người khác là điều quá sức. Bởi tình yêu không tự nhiên sinh ra, và cảm thức cộng đồng cũng không thể gượng ép mà có (nhất là trong thời đại mà nhiều cộng đồng có lẽ chưa bảo vệ được cho những cá nhân của họ). Hành trình này đòi hỏi thời gian lẫn dũng khí, để mỗi người trẻ, dù mang theo bất kỳ hình hài tinh thần nào, cũng có thể nhẫn nại chờ đợi sự trưởng thành của chính mình giữa lòng nhân loại. Sự tự lập đích thực, vì thế, không chỉ là kiểm soát được bản năng ích kỷ, mà còn là biết cách chung sống yên bình với những tổn thương, và chấp nhận cả những điều không hoàn hảo, trước khi mở lòng ra với thế. Và đôi khi, cho phép họ được không mở lòng (nếu muốn)…
Và câu hỏi thứ ba xuất hiện khi tôi nghĩ về những cụ già neo đơn, nghĩ về những trận lũ kinh hoàng chưa từng có, nghĩ về những ai đó bỗng chốc không còn người thân sau một cơn giông, hay về những ai đã nằm lại sau một trận sạt lở,v.v….để rồi nhận ra, vài người nào đó còn không tìm thấy được một “chúng ta” để họ thuộc về. Vậy làm sao để cái gọi là “cảm thức cộng đồng” ấy không chỉ tồn tại như một khái niệm đẹp đẽ, mà thực sự có khả năng dung chứa những tiếng nói yếu ớt nhất, trầy trụa nhất? Ta nên đặt họ vào đâu trong hình dung về cộng đồng của mình. Và tôi nhận ra, cảm thức cộng đồng không chỉ hiện diện khi con người cùng cất vang niềm tự hào về nơi mình thuộc về, mà còn phải được thử thách trong những tình huống lặng lẽ, mỏi mòn và kém đẹp nhất của đời sống. Ngược lại, một “chúng ta” chỉ đủ sức ôm lấy những con người còn lành lặn thì có lẽ vẫn là một “chúng ta” có điều kiện – một thỏa thuận ngầm hơn là một sự đón nhận. Dẫu đương nhiên không ai trong chúng ta đủ sức cứu rỗi cả thế giới, nhưng điều đáng suy nghĩ hơn là thái độ ta mang theo khi đối diện với những mảnh đời ấy. Ta có nhìn thấy họ như một phần của “cảm thức cộng đồng” mà ta đang sống không, hay chỉ như một sai lệch cần được giải thích, một hệ quả đáng tiếc nhưng nằm ngoài phạm vi trách nhiệm của mình? Đôi khi, sự thờ ơ nảy sinh từ khoảnh khắc ta thuyết phục bản thân rằng đó không phải là chuyện của “chúng ta”. Vì thế, câu hỏi ở đây là: liệu mỗi cá nhân có đủ can đảm để chấp nhận rằng “cảm thức cộng đồng” không phải lúc nào cũng dễ chịu, trật tự và truyền cảm hứng? Một cảm thức cộng đồng trưởng thành, nếu có thể tồn tại, hẳn phải bao gồm cả những gì khiến ta day dứt, bất lực và không biết phải giải quyết ra sao. Bởi chỉ khi đó, “chúng ta” mới không còn là một lời hứa suông, mà trở thành một nỗ lực, một bản lĩnh yêu thương, dẫu mong manh nhưng cần thiết.
Và sau cùng, có lẽ tôi thừa nhận rằng mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng là một vấn đề không có đáp án cố định. Con người được sinh ra trong những kết nối, và chính những kết nối ấy cũng góp phần định hình chúng ta. Vẻ đẹp của cảm thức cộng đồng, nếu có, theo tôi nằm ở khả năng dung chứa những khác biệt. Đó không phải là một trạng thái yên ổn, mà thường là một không gian phức tạp, rắc rối và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Nó có thể khiến con người trở nên lộn xộn hơn, lo toan hơn, nhưng cũng vì thế mà chân thực hơn. Cảm thức cộng đồng đẹp đẽ nhất trong hình dung của tôi có lẽ là bức tường tình yêu ở Paris. Ở đó, cụm từ “tôi yêu bạn” được viết bằng hàng trăm ngôn ngữ khác nhau, nhắc nhở tôi rằng dẫu khác biệt, con người trên thế giới đều biết cách yêu thương, và đều cần được yêu thương. “Chúng ta”, vì thế, không phải là một điểm đến ổn định, mà là một nỗ lực liên tục: nỗ lực lắng nghe, nỗ lực chấp thuận sự khác biệt, và nỗ lực không loại trừ nhau khi mọi thứ trở nên khó khăn. Và có lẽ, chính trong sự bất toàn ấy, cảm thức cộng đồng giữ được ý nghĩa nhân văn nhất của nó,v.v…
Uyên Phương – Người phụ trách lớp Apollo ôn HSGQG
Hãy cho biết trải nghiệm của bạn với nội dung trên
Danh sách đánh giá (0 đánh giá)
